Phát huy sự tương đồng về tính nhân bản trong văn hóa để hướng dẫn ứng xử giảm mâu thuẫn tăng hòa hợp tại các công ty hàn quốc ở việt nam

PHÁT HUY SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ TÍNH NHÂN BẢN TRONG VĂN HÓA ĐỂ HƯỚNG DẪN ỨNG XỬ 
GIẢM MÂU THUẪN TĂNG HÒA HỢP  TẠI CÁC CÔNG TY HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM


 
Trong bức tranh tổng quan về hợp tác Việt-Hàn thời gian qua, hợp tác kinh tế, đặc biệt là sự đầu tư của các doanh nghiệp Hàn Quốc vào Việt Nam là mảng màu nổi bật nhất. Sự nổi bật này không chỉ về mặt số lượng vốn đầu tư mà còn là sự liên tục giữ vị trí số một về đầu tư vào Việt Nam trong thời gian dài trên một địa bàn đầu tư trải rộng tại nhiều khu vực lãnh thổ Việt Nam quan trọng. Tính đến tháng 5/2016 Hàn Quốc đã có 5273 dự án còn hiệu lực với tổng đầu tư đạt 49 tỷ USD, đứng thứ nhất về tổng vốn và tổng dự án đầu tư trong số 115 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Doanh nghiệp FDI của Hàn Quốc là thành phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, sử dụng khoảng 70 vạn lao động Việt Nam và đóng góp trên 25% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam . Các tập đoàn lớn của Hàn Quốc như Samsung, LG, Doosan, Kumho, POSCO, Lotte, Husong… đều đã có mặt tại Việt Nam trong hàng thập niên qua. Kết thúc năm 2016 đầu tư Hàn Quốc vẫn giữ xu hướng hướng tới thị trường Việt Nam và hứa hẹn có một làn sóng đầu tư ồ ạt mới sau dấu mốc 25 năm hợp tác Hàn-Việt. 

Bên cạnh nguyên nhân văn hóa còn có nguyên nhân từ vấn đề bị động và lúng túng trong cơ cấu nhân sự và hệ thống quản lý của doanh nghiệp Hàn Quốc. Sở dĩ như vậy là vì ngoài một số doanh nghiệp lớn thì phần đông các doanh nghiệp Hàn đầu tư ở Việt Nam là có quy mô vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp này thường yếu về vốn, về phương pháp quản lý và chiến lược kinh doanh nên họ thường muốn tìm nơi chi phí sản xuất rẻ để đầu tư hơn là tiến hành một quá trình chuẩn bị lâu dài và kỹ lưỡng trước khi đầu tư, do đó một chế độ nhân sự phù hợp ở địa phương là chưa được xây dựng bài bản. 

Trong điều kiện đó, các đặc tính văn hóa tự phát đã lấn lướt, tạo ra hệ quả xấu trong nhân tố cơ cấu nhân sự và hệ thống quản lý, làm cho công ty tăng gánh nặng chi phí khi phải đưa nhiều nhân công của Hàn Quốc sang làm việc tại Việt Nam, đồng thời khiến cho nhân viên Việt Nam có thái độ tiêu cực với các doanh nghiệp Hàn Quốc, mức độ gắn kết với doanh nghiệp không cao và do đó gây khó khăn cho các doanh nghiệp Hàn trong việc tạo dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp mạnh khi đầu tư tại Việt Nam. 
Đặc trưng ứng xử xã hội nổi bật của văn hóa Hàn là tính tôn ty, tác phong gia trưởng, tập quyền nhiều khi là độc đoán. Đặc trưng văn hóa này khiến cho xu hướng ứng xử chủ đạo của quản lý doanh nghiệp Hàn Quốc với nhân viên hay công nhân Việt là thông điệp yêu cầu phải thích nghi và thực thi các ứng xử theo văn hóa tôn ty. Trong khi đó ứng xử theo tôn ty quá nghiêm ngặt và nhiều lễ nghi lại là điều không quen thuộc với văn hóa Việt. Người Việt ưa sự hòa đồng, trên dưới thân ái, xuề xòa, không rườm rà xa cách và lễ nghi.Người Việt coi đó là giá trị của sự thân mật, hòa đồng là cái “tình” gắn bó giữa lãnh đạo và nhân viên.
Do điểm không gặp nhau này này mà hai bên đã tạo ra một khoảng cách của sự không hài lòng về nhiều ứng xử với nhau. Hơn nữa, người Việt tuy có sở trường là khoan dung văn hóa, thường chọn lối ứng xử mềm mại, tôn trọng sự khác biệt để cùng tồn tại, nhưng đồng thời văn hóa Việt lại có một nội lực mạnh mẽ và sức chống đồng hóa cao nên không dễ chấp nhận sự áp đặt văn hóa. Vì vậy nếu gặp trường hợp chủ doanh nghiệp Hàn Quốc có tính cách cứng, gia trưởng, thiên về áp đặt theo cung cách văn hóa Hàn thì khi hai bên nảy sinh mâu thuẫn về lợi ích, rất dễ cộng hưởng với những va chạm văn hóa đó, để bùng nổ thành hiện tượng tiêu cực làm tổn thương cả hai bên. Nếu chưa tới mức bùng nổ thì sự thiếu hòa hợp do khác biệt văn hóa này cũng sẽ trở thành lực cản khó xây dựng một không khí thân thiện, tin cậy lẫn nhau, thậm chí còn là căng thẳng do đó sẽ tác động xấu đến việc tạo dựng nội lực mạnh cho doanh nghiệp. 

Bên cạnh những va chạm về sự khác biệt của văn hóa truyền thống còn bảo lưu thì quan hệ hai bên còn phải đối mặt với thách đố từ độ chênh trong tính hiện đại của hai nền văn hóa Hàn-Việt. Xét trong môi trường hợp tác sản xuất trong các doanh nghiệp Hàn Quốc ở Việt Nam độ chênh về tính hiện đại của văn hóa Việt so với yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp hiện đại thể hiện ở:
-Độ chênh về tri thức và tay nghề của người lao động Việt Nam so với yêu cầu kỹ thuật của máy móc công nghiệp hiện đại trong các doanh nghiệp Hàn. 
-Độ chênh do nếp sống nông nghiệp người lao động Việt Nam so với tác phong lao động công nghiệp theo yêu cầu kỷ luật lao động trong các nhà máy hiện đại của các doanh nghiệp Hàn Quốc. 
Độ chênh này tất nhiên là không giống nhau ở mọi đối tượng lao động Việt Nam. Nó tùy thuộc vào trình độ văn hóa, trình độ tay nghề của từng đối tượng. Tuy nhiên trên mặt bằng chung của tính hiện đại trong nền văn hóa (mức độ làm chủ tri thức hiện đại và ứng dụng tri thức hiện đại vào cuộc sống của chủ nhân văn hóa) thì độ chênh này là thực trạng thấp hơn của trình độ lực lượng sản xuất và trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam so với Hàn Quốc. 

Hơn thế nữa, lực lượng lao động trong các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam chủ yếu xuất thân từ vùng nông thôn – khu vực trũng nhất của mặt bằng tri thức vốn đã thấp của Việt Nam. Do đó độ chênh về tri thức và tay nghề của họ so với yêu cầu vận hành máy móc hiện đại và tiếp thu chuyển giao công nghệ là một điểm yếu rất đáng kể. Phong cách sống nông nghiệp của công nhân Việt Nam còn gắn với các hệ quả về sự yếu kém ý thức kỷ luật lao động như thiếu tập trung khi làm việc (dùng điện thoại cá nhân, nói chuyện riêng v.v…), thiếu kỹ năng của nhân lực hiện đại, chậm và thiếu tính năng động của cạnh tranh. Ngoài ra cũng không loại trừ những thói xấu đã tự phát xâm chiếm vào văn hóa thời kỳ quá độ của Việt Nam như lối sống vụ lợi, làm ăn dối trá, lười biếng v.v… mà nhiều công nhân có học vấn thấp bị tiêm nhiễm và mang theo nó trong hành trang ứng xử của mình. 

Như vậy văn hóa của người lao động trong các công ty Hàn Quốc nhìn từ góc độ văn hóa hiện đại là ở một chất lượng yếu, gây khó cho việc đáp ứng tốt các yêu cầu của nền sản xuất và quản lý hiện đại. Điều này làm gia tăng xung đột trong quá trình vận hành sản xuất ở các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam. 

Do không quen với áp lực và kỷ luật lao động hiện đại nên người lao động Việt Nam luôn cảm thấy khó khăn với việc thực thi các nội quy, quy định chặt chẽ của các doanh nghiệp Hàn. Các điều tra xã hội học cho thấy đa số ý kiến của họ đều cho rằng chế độ và kỷ luật lao động của doanh nghiêp Hàn Quốc quá khắt khe. Họ muốn tăng giờ nghỉ, không muốn cố gắng thực thi các nguyên tắc và kỷ luật lao động nên gia tăng tâm lý bất mãn và sự ác cảm với quản lý doanh nghiệp Hàn. Khá nhiều các doanh nghiệp Hàn ở Việt Nam lại chọn cách quản lý nhân sự theo hướng khống chế, cai quản. Họ có khuynh hướng đặt ra nhiều quy tắc chi li và tăng độ khắt khe, trừng phạt để đảm bảo rằng họ cai quản chặt chẽ. Cộng hưởng với tâm lý không tin cậy người bản địa, muốn áp đặt văn hóa tôn ty nên thái độ ứng xử của quản lý Hàn theo đó mà lạnh lùng và hung dữ trong con mắt công nhân Việt Nam. Điều này gia tăng phản ứng chống áp đặt văn hóa của công nhân Việt vốn ở một nền văn hóa có tính chống đồng hóa mạnh.

Độ chênh về tính hiện đại trong văn hóa của công nhân Việt Nam trong các công ty Hàn Quốc do đó không những không được trợ giúp để san lấp mà còn gia tăng tác động xấu khi người lao động Việt các ác cảm với các quy định và lối hành xử thiếu hòa hợp, thiếu khoan dung của người quản lý Hàn. Đó có thể xem là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho số lượng đình công của công nhân Việt trong các công ty Hàn luôn cao hơn các công ty nước ngoài khác cho dù lương trong các công ty Hàn không ít hơn lương trong các doanh nghiệp này, thâm chí ở một số doanh nghiệp Hàn, lương còn cao hơn.

Vì vậy việc tìm giải pháp để giảm mâu thuẫn tăng hòa hợp trong hợp tác Việt - Hàn tại các công ty Hàn ở Việt Nam là một nhu cầu thực tế cần được nghiên cứu, hỗ trợ tích cực để thúc đẩy sự hợp tác trong lĩnh vực đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới.

Có nhiều yếu tố tác động đến vấn đề giải quyết mâu thuẫn, vì vậy vấn đề giải pháp cũng cần được tiếp cận từ nhiều hướng và nhiều lĩnh vực (pháp luật, môi trường tự nhiên, xã hội, văn hóa, v.v..). Trong bài viết này chúng tôi đã chọn góc độ văn hóa để phân tích các mâu thuẫn, các va chạm, do đó cũng sẽ chọn giải pháp văn hóa cho việc giải quyết các mâu thuẫn và tồn tại này. 
Chúng ta biết rằng thực tiễn phát triển quan hệ Việt Nam Hàn Quốc trong thời gian qua không chỉ là kết quả của những hợp đồng dự án mà còn là kết quả giao lưu tương tác giữa hai nền văn hóa Việt - Hàn. Sự phát triển nhanh và toàn diện của quan hệ hai bên với những số liệu minh chứng ấn tượng cho thấy sự khác biệt của nó so với các mối quan hệ khác cùng thời và rõ ràng là văn hóa đã giữ vai trò xúc tác quan trọng.

Từ kết quả nghiên cứu về sự tương đồng và khác biệt trong đặc trưng văn hóa Hàn - Việt chúng tôi cho rằng: Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia có rất nhiều thuận lợi về văn hóa đề tạo ra được hiện tượng hợp tác rất ngoạn mục và đặc biệt. Thực tiễn phát triển quan hệ Hàn - Việt trong thời gian qua đã minh chứng điều đó. Nhưng thực tiễn cũng cho thấy cả hai phía chưa thực sự ý thức đầy đủ về các thế mạnh, các tiềm năng ưu việt của sự tương đồng để phát huy cao độ được sức mạnh của tương đồng, hóa giải các mâu thuẫn va chạm. Do đó các tồn tại trong quan hệ hợp tác Hàn - Việt ở các công ty Hàn Quốc hay trong gia đình đa văn hóa cần phải được giảm thiểu một cách tích cực hơn nữa bằng các giải pháp văn hóa.
Trước hết rất cần ở đây một sự thấu hiểu văn hóa của nhau, một thái độ khoan dung văn hóa, chủ động xây dựng một sự đối thoại văn hóa, tôn trọng cái riêng vì lợi ích hợp tác chung, khơi dậy mối đồng cảm tương đồng tạo nên sự hòa hợp, giảm va chạm văn hóa để tạo nên sự bền vững cho quan hệ hợp tác Hàn - Việt.
Ngoài việc tăng cường các nghiên cứu so sánh văn hóa Hàn - Việt thì rất cần những hướng dẫn ứng xử trong các hoàn cảnh hợp tác và giao lưu cụ thể cho từng đối tượng tham gia. Với không gian hợp tác trong các công ty Hàn Quốc nên áp dụng các giải pháp văn hóa: 
1- Tăng cường các hoạt động giáo dục, tuyên truyền về sự tương đồng và khác biệt của văn hóa Hàn Quốc và Việt Nam cho các đối tượng hợp tác. Xây dựng tâm lý tôn trọng văn hóa của nhau, lấy tính nhân bản, thương yêu và khoan dung văn hóa vốn là thế mạnh tương đồng của hai bên làm nền tảng để đối thoại văn hóa không áp đặt văn hóa và không gây phản kháng văn hóa.
2-  Các công ty Hàn Quốc nên thảo luận, thống nhất các nguyên tắc, các nội quy và kỷ luật lao động trong công ty trước khi áp dụng. Giải thích với công nhân các lý do áp dụng các nội quy trên vì lợi ích chung và vì sự phát triển công ty để tạo sự đồng thuận với người lao động. Hãy tin rằng khi người lao động hiểu, họ sẽ tự giác thực hiện. Điều đó tốt hơn nhiều việc đặt ra các quy định chi li để cai quản mà không có sự đồng thuân. Một khi tất cả đã đồng thuận mà ai đó cố tình vi phạm thì sự trừng phạt sẽ được người lao động đồng tình không gây phản kháng văn hóa.
3- Doanh nghiệp Hàn Quốc nên nhìn thẳng vào thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam để xác định vấn đề: muốn tận dụng được thế mạnh nguồn nhân lực trẻ, rẻ ở Việt Nam một cách bền vững thì phải xây dựng một chiến lược nhân sự phù hợp, khắc phục sự yếu kém về tính hiện đại của lực lượng lao động Việt Nam, cụ thể cần: 
- Tăng chi phí đào tạo (ngôn ngữ, tay nghề) cho đội ngũ nhân viên và công nhân Việt để tăng chất lượng nguồn nhân lực. Coi đó là sự đầu tư cho phát triển.
- Nên vượt lên chính mình để dám tin cậy trọng dụng những người Việt có đủ khả năng và xứng đáng, giao cho họ các vị trí quan trọng, chia sẻ niềm tin, niềm tự hào để cùng xây dựng văn hóa doanh nghiệp mạnh. Tạo được sự gắn kết và lòng trung thành của nhân viên với công ty để giữ được nguồn nhân lực ưu tú, tạo thế đứng vững chắc tại địa bàn đầu tư.
4- Từ nhận thức đúng nên xây dựng các quy tắc ứng xử, các hướng dẫn ứng xử trong đó khuyến khích các hành vi đúng, nêu rõ phê phán các hành vi sai. Lấy công bằng và khoan dung văn hóa tôn trọng các đặc trưng riêng của mỗi nền văn hóa làm nền tảng và tiêu chí để soạn thảo quy tắc ứng xử giảm mâu thuẫn tăng hòa hợp trong các công ty.

 

PGS. TS. Trần Thị Thu Lương

Trung tâm Hàn Quốc học, ĐHKHXH&NV ĐHQG TPHCM

 

 

------------------------------------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Chung Byong Jo, Tìm đường làm hài hòa những đối lập, Koreana, vol 6, No 4, 1992, Bài in trong Đặng Văn Lung Tiếp cận văn hóa Hàn Quốc, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002.
2- Trần Thị Thu Lương, Đặc trưng văn hóa Việt Nam Hàn Quốc tương đồng và khác biệt, Nxb. Chính trị quốc gia, 2016.
3- Cao Thúy Oanh, Sự hội nhập vào Việt Nam của cộng đồng người Hàn tại Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Tp. HCM, 2013.


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.