Những khác biệt văn hóa trong đời sống gia đình chồng hàn-vợ việt

NHỮNG KHÁC BIỆT VĂN HÓA TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH CHỒNG HÀN-VỢ VIỆT

  

Bất cứ ai cũng sẽ gặp khó khăn khi phải sinh sống ở một quốc gia khác. Trong tiếng Hàn cũng có cụm từ “lạ nước lạ cái” là dùng để diễn tả điều này. Dù sống cùng một quốc gia có ngôn ngữ và văn hóa giống nhau nhưng khi phải chuyển sang sống ở một khu vực khác thì cũng là “lạ nước lạ cái”, khó mà thích nghi ngay được. Do đó việc phải sống ở một nước xa lạ khác cả ngôn ngữ, tôn giáo, văn hóa, truyền thống thật sự là một việc vô cùng vất vả. Còn về mặt kết hôn, tuy là kết hôn với người cùng quốc gia thì việc sống chung cũng không phải là điều dễ dàng nên khi kết hôn cùng với người khác văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử thì đương nhiên là trong cuộc sống sẽ phát sinh rất nhiều trở ngại. Nhiều cô dâu Việt Nam kết hôn với chồng Hàn Quốc phải rời quê hương rồi đến Hàn Quốc sinh sống gặp rất nhiều khó khăn. Hơn nữa, trong số họ có nhiều người không phải kết hôn do yêu và tin tưởng lẫn nhau mà là qua công ty môi giới, họ quyết định kết hôn sau một thời gian gặp nhau rất ngắn, vì thế mà đời sống hôn nhân càng khó khăn hơn. Sống chung với chồng đã khó, sống ở một quốc gia khác lại càng khó hơn cho phụ nữ Việt Nam trong việc thích nghi.

Chúng ta thấy rằng phụ nữ Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi kết hôn và sinh sống tại Hàn Quốc. Trong bảng điều tra năm 2012, chúng tôi đã hỏi những người vợ Việt Nam về những khó khăn gặp phải khi sống ở Hàn Quốc. Trong <Hình 2> dưới đây, chúng ta sẽ biết được những khó khăn mà họ đã trải qua là gì.

Những người vợ Việt Nam trả lời câu hỏi này đều nói rằng khó khăn lớn nhất mà họ đã và đang trải qua chính là vấn đề ngôn ngữ. Điều này cũng dễ hiểu, bởi đa số họ đều mới sống chung với chồng chưa đến 10 năm. Dù các cô gái Việt Nam đều học tiếng Hàn trước khi kết hôn nhưng năng lực tiếng Hàn của họ chưa đạt đến mức lưu loát. Hầu hết họ chỉ đạt trình độ sơ cấp, chỉ dừng lại ở vài câu giao tiếp hàng ngày. Việc học tiếng Hàn đòi hỏi thời gian rất dài nên không thể nói tiếng Hàn lưu loát ngay được. Thường thì người nước ngoài kết hôn với người Hàn Quốc khi đã ở độ tuổi đã trưởng thành, thời gian sống ở Hàn Quốc lại chưa đầy 5 năm hay 10 năm nên khó tìm được người nào có thể lưu loát tiếng Hàn được. Như vậy, theo bảng điều tra năm 2012, khó khăn lớn nhất mà những người vợ Việt Nam gặp phải chính là tiếng Hàn.

Đứng thứ hai sau vấn đề ngôn ngữ chính là sự cô đơn. Đa số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc đều đến Hàn Quốc một mình nên cuộc sống với toàn người lạ xung quanh sẽ khiến họ cô đơn. Dù gia đình chồng đối xử tốt với họ nhưng do họ còn nhỏ, thường nhớ gia đình và nhớ quê nên cảm thấy cô đơn là điều dễ hiểu. Bên cạnh sự cô đơn thì người vợ Việt Nam còn gặp những khó khăn khác như khó khăn trong nuôi dạy con cái hay khó khăn về kinh tế.

Như đề cập ở trên, bất cứ ai khi sinh sống ở nước khác cũng sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề. Khi gặp khó khăn thì bản thân họ có thể tự mình giải quyết, còn đối với những vấn đề mà bản thân không giải quyết được thì phải tìm đến người tư vấn. Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam khi kết hôn và sang Hàn Quốc sống thì không dễ tìm được người ngoài gia đình có thể tư vấn và giải quyết khi có vấn đề xảy ra. Trong bảng điều tra năm 2012, chúng tôi cũng đặt ra câu hỏi là liệu người vợ Việt Nam có người ngoài gia đình có thể tư vấn cho họ khi gặp vấn đề cá nhân hay khó khăn trong gia đình hay không? 

  1. Đã có 55% người vợ Việt Nam trả lời rằng khi họ gặp vấn đề cá nhân hay trong gia đình thì bên cạnh người trong gia đình, cũng có người Việt Nam có thể tư vấn cho họ. Trong khi đó có 27% người nói rằng có người Hàn Quốc ngoài gia đình giúp họ và 21% trả lời rằng ngoài gia đình ra thì không ai tư vấn được cho họ cả. Tức là theo kết quả điều tra, cứ 5 người thì lại có 1 người trả lời rằng họ không có ai tư vấn giúp họ giải quyết khó khăn cả. Nhưng nếu nhìn ở khía cạnh tích cực thì thấy rằng cứ 2 người thì đã có 1 người được người cùng quốc tịch Việt Nam tư vấn, đối với những người sống ở Hàn Quốc chưa đầy 10 năm thì đây là một chỗ dựa to lớn. Dựa vào bảng điều tra thì chúng ta cũng thấy là cứ 4 người thì có 1 người có thể nghe tư vấn từ người Hàn Quốc ngoài gia đình. Con số này có thể xem là tiêu cực, nhưng cũng có thể là tích cực. 

  2. Bên cạnh người giúp đỡ trong lúc khó khăn thì người có thể cùng tham gia các hoạt động giải trí hay sở thích cũng là động lực to lớn giúp phụ nữ Việt Nam thích nghi với xã hội Hàn Quốc và cuộc sống gia đình Hàn Quốc. Kết quả điều tra cho thấy có đến 37% phụ nữ Việt Nam cho biết chẳng tìm được ai ngoài gia đình có thể cùng tham gia các hoạt động sở thích hay giải trí, người trả lời có đồng hương Việt Nam tham gia các hoạt động này chiếm tỷ lệ 43% và 21% trong tổng số là có người Hàn Quốc cùng tham gia với họ. Vì là cô dâu nước ngoài nên việc tìm được người cùng tham gia các hoạt động sở thích hay giải trí là rất khó. Trường hợp khó khăn cần người tư vấn không thường xuyên xảy ra, nhưng giải trí hay hoạt động sở thích là việc làm thường xuyên nên càng khó tìm người cùng tham gia với mình.

  3. Khi gặp khó khăn trong cuộc sống gia đình mà không có ai có thể tư vấn, hay cần người cùng nhau tham gia các hoạt động sở thích hay giải trí thì người vợ Việt Nam rất vất vả thích nghi với xã hội Hàn Quốc hay cuộc sống hôn nhân và gia đình ở Hàn Quốc.

  4. Mức độ tham gia vào các câu lạc bộ hay các hoạt động khác

    Để thích nghi với cuộc sống Hàn Quốc thì người vợ Việt Nam không chỉ dừng lại ở cuộc sống gia đình mà nên tham gia các hoạt động xã hội. Câu lạc bộ mà phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc tham gia nhiều nhất trong năm là câu lạc bộ những người bạn Việt Nam. Do có các bạn đồng hương ở gần hoặc không quá xa nên khi có các câu lạc bộ này những người vợ Việt Nam sẽ tham gia ngay khi có thể.

    Tóm lại, nếu năng lực tiếng Hàn không tốt thì họ sẽ gặp trở ngại khi sống trong xã hội Hàn Quốc và điều này cũng trở thành yếu tố ngăn cản họ tham gia vào các câu lạc bộ hay hoạt động xã hội hàng ngày. Rào cản ngôn ngữ, mà ở đây là tiếng Hàn, chính là mầm mống của tất cả những vấn đề phát sinh đối với các cô dâu Việt vừa sang Hàn Quốc chưa được bao lâu như khó thích nghi xã hội, mâu thuẫn với gia đình chồng, không thể tham gia các hoạt động xã hội.

  5. Kinh nghiệm về việc phân biệt đối xử

    Xã hội Hàn Quốc và người Hàn Quốc thường phân biệt đối xử nghiêm trọng với những người dân da màu. Trên thực tế, tất cả nhân loại đều là người da màu cả. Tuy nhiên, với người Hàn Quốc, ngoại trừ nhóm người da trắng ra thì các nhóm người còn lại đều được gọi là dân da màu, trong đó bao gồm cả Hàn Quốc và Việt Nam. Nếu nói cụ thể hơn thì người Hàn Quốc rất hay bài xích và phân biệt đối xử với những người có làn da tối màu. Và họ cũng phân biệt đối xử với những người đến từ các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển hơn Hàn Quốc. Do vậy, khi kết hôn với chồng và đến Hàn Quốc sinh sống thì khả năng bị phân biệt đối xử của người vợ Việt Nam rất lớn.

    Theo kết quả phân tích của chúng tôi, có đến 65% các cô dâu Việt nói rằng tính đến thời điểm hiện tại bản thân chưa bao giờ bị xã hội phân biệt đối xử. 35% còn lại thì đã từng bị phân biệt đối xử dưới nhiều hình thức khác nhau. Sống ở nơi nổi tiếng là dễ phân biệt đối xử và bài xích như xã hội Hàn Quốc mà có đến 65% cô dâu Việt nói rằng mình chưa từng bị phân biệt thì quả là đáng ngạc nhiên. Mặc dù cũng có 35% trong tổng số cho biết mình từng bị đối xử không công bằng, nhưng đó vẫn là tỷ lệ khá thấp khi mang ra so sánh.

  6. Những khó khăn trong cuộc sống gia đình

    Đối tượng nghiên cứu trong bài viết này phần lớn là các cặp chồng Hàn-vợ Việt chung sống với nhau dưới 10 năm. Tức là người vợ Việt Nam mà chúng tôi đề cập ở đây chỉ sống ở Hàn Quốc thời gian ngắn.  Tỷ lệ trả lời “không hài lòng lắm” hoặc “hoàn toàn không hài lòng” rất thấp. Chúng ta cũng dễ dàng nhận ra rằng, những người càng trẻ thì mức độ hài lòng càng cao và mức độ này giảm dần khi độ tuổi tăng dần. Số tuổi của cặp vợ chồng càng lớn, tức là thời gian lưu trú của người vợ cũng dài hơn, vợ chồng sống chung với nhau lâu hơn và như thế thì mức độ hài lòng càng lúc càng giảm đi.

    Mức độ hài lòng về mối quan hệ với con cái cao hơn rất nhiều so với quan hệ vợ chồng. Cả hai phía chồng Hàn và vợ Việt đều tỏ ra rất hài lòng với quan hệ với con cái của họ. Do họ kết hôn chưa lâu nên con của họ còn rất nhỏ, và cả hai phía bố mẹ đều có mức độ hài lòng rất cao với con của mình. Nếu so sánh mức độ hài lòng về bạn đời và về con cái thì mức độ về bạn đời thấp hơn hẳn. Dù tỷ lệ trả lời “không hài lòng lắm” hay “hoàn toàn không hài lòng” rất ít nhưng số người trả lời “bình thường” cũng chiếm số lượng không nhỏ. Con số này cho thấy được sự thật là quan hệ vợ chồng của họ không được tốt. 

    Mặc dù sống chung một mái nhà nhưng vì lớn lên trong hoàn cảnh mà truyền thống, văn hóa, lịch sử đều khác nên các cặp chồng Hàn-vợ Việt sẽ dần dần cảm nhận sự khác biệt văn hóa ở nhau. Vậy họ cảm thấy khác biệt văn hóa nào là lớn nhất trong đời sống vợ chồng? 

    Người chồng Hàn Quốc càng lớn tuổi thì càng dễ cảm thấy khác biệt văn hóa với vợ Việt Nam hơn. Mặc dù độ chênh lệch giữa các tỷ lệ không lớn lắm nhưng mức độ cảm nhận sẽ tăng dần trong quá trình chung sống với vợ. Còn về phía vợ Việt Nam thì những người trong độ tuổi từ 24 trở xuống và từ 30 tuổi trở lên thì mức độ cảm nhận giống nhau, trong khi đó những người thuộc độ tuổi 25-29 thì lại không cảm thấy khác biệt. Tại sao lại có hiện tượng này thì chúng tôi vẫn chưa giải thích được.

    Như đã đề cậy, đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi hướng đến trong bài viết này là những cô dâu Việt sang Hàn Quốc chưa lâu, vẫn đang trong quá trình thích nghi với cuộc sống ở đây. Phải nói rằng một trong những khác biệt văn hóa khiến cho vợ chồng Hàn-Việt khó hòa hợp lẫn nhau được chính là thói quen ăn uống. Phía chồng và vợ đều cảm thấy có sự khác biệt lớn xoay quanh việc ăn uống như cách ăn, dụng cụ để ăn, …Ví dụ như trong ẩm thực Đông Nam Á có nhiều món ăn dậy mùi. Thế nhưng người Hàn Quốc lại không quen với các món ăn này. Vì vậy dù các món ăn này có ngon đến mấy thì người Hàn Quốc cũng không thể ăn được. Ngược lại, người Việt Nam lại thấy hầu hết món ăn Hàn Quốc đều có màu đỏ vì cho quá nhiều ớt, lại cay nên rất khó ăn. Một điểm khác nữa là món ăn Đông Nam Á thường có vị ngọt, trong khi người Hàn Quốc lại hay ăn các món ít ngọt và có vị mặn hơn. Văn hóa ẩm thực Hàn Quốc thay đổi theo từng vùng miền, những người Hàn Quốc khác vùng miền khi kết hôn với nhau cũng cần thời gian thích nghi về thức ăn. Huống chi trong trường hợp này là chồng Hàn và vợ Việt, họ vốn có bối cảnh văn hóa ẩm thực quá khác nhau, vì vậy việc họ cảm thấy khác biệt văn hóa trong món ăn và thói quen ăn uống là điều đương nhiên. Tuy nhiên, nếu vấn đề này kéo dài thì sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống vợ chồng và gia đình. Không thể ép một bên hy sinh hoàn toàn thói quen ăn uống của mình mà cả hai phía phải nổ lực để tìm hiểu về thói quen của đối phương để tìm cách thích nghi với nhau. 

    Vợ chồng khi sống cùng nhau sẽ có lúc mâu thuẫn và tranh cãi. Những cặp vợ chồng Hàn-Việt mà chúng tôi điều tra cũng đã từng mâu thuẫn và tranh cãi. Kết quả cho thấy là trong năm qua có 65% cặp vợ chồng từng cãi nhau. Và độ tuổi càng cao thì việc tranh cãi càng nhiều. Tức là khi cả chồng lẫn vợ càng nhiều tuổi thì số lần họ cãi nhau càng nhiều.

      Vợ chồng theo diện kết hôn quốc tế có thể không hiểu nhau do ngôn ng bất đồng, từ đó dẫn đến nhiều trường hợp cãi nhau do hiểu lầm ý của đối phương. Nguyên nhân tiếp theo dẫn đến tranh cãi là khác biệt về tính cách. Vấn đề này không chỉ xảy ra ở các cặp vợ chồng kết hôn quốc tế. Nhiều cặp vợ chồng Hàn Quốc đều đưa ra lý do để ly hôn là không hợp tính nhau. Tức là cho dù là vợ chồng kết hôn quốc tế hay vợ chồng cùng quốc tịch kết hôn với nhau thì sự khác biệt trong tính cách cũng là nguyên nhân dẫn đến tranh cãi. Rất nhiều cặp vợ chồng Hàn-Việt cãi nhau vì lý do quá khác nhau trong tính cách. Ngoài những nguyên nhân trên, vấn đề kinh tế cũng là một nguyên nhân chiêm tỷ lệ tương đối cao. Và đây cũng không phải là khó khăn của riêng các cặp vợ chồng kết hôn quốc tế. Nói chung, khi tình hình kinh tế không tốt thì rất dễ phát sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng về việc kiếm sống.

    Vấn đề ngôn ngữ chính là nguồn cơn kéo theo những vấn đề khác trong cuộc sống vợ chồng, cuộc sống gia đình Hàn-Việt, và ngôn ngữ cũng là nguyên nhân của nhiều mâu thuẫn. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề có thể giải quyết trong một sớm một chiều được mà cả hai vợ chồng phải cùng nhau thông cảm, nhẫn nại và từ từ giải quyết theo hướng tốt đẹp nhất.

  7. Kết luận.

Trên đây chúng tôi đã phân tích về những gia đình có vợ là người Việt Nam và chồng là người Hàn Quốc dựa trên kết quả của Bảng điều tra thực trạng gia đình đa văn hóa toàn quốc năm 2012, từ đó xem xét mặt gây khó khăn cho người vợ Việt Nam trong việc thích nghi với xã hội Hàn Quốc. Về nội dung này, chúng tôi xin được đưa ra những kết luận sau.

Thứ nhất, trong xã hội Hàn Quốc, tuổi tác là một yếu tố quan trọng góp phần quyết định vị thế xã hội của một người. Hiện nay, người ta vẫn còn xem trọng tư tưởng “trưởng ấu hữu tự” của Nho giáo. Tư tưởng này cũng tồn tại trong quan hệ vợ chồng. Về cơ bản, chồng hay lớn tuổi hơn vợ, dạo gần đây thì cũng có nhiều người vợ lớn tuổi hơn chồng. Tuy nhiên, trong trường hợp giữa chồng và vợ có sự chênh lệch tuổi tác từ 10 tuổi trở lên thì khó có được sự bình đẳng trong quan hệ vợ chồng. Người chồng lớn tuổi hơn thường tỏ ra có quyền thế và đòi hỏi một mối quan hệ mà uy quyền nghiêng về phía mình. Đa số các cặp vợ chồng Hàn Việt đều có vợ nhỏ tuổi hơn chồng rất nhiều. Do đó, nếu muốn có được cuộc sống hôn nhân và gia đình bình đẳng và hòa hợp, cần tránh các trường hợp kết hôn mà tuổi tác chồng vợ chênh lệch quá nhiều.

Thứ hai, trình độ học vấn của chồng Hàn Quốc thường cao hơn vợ Việt Nam. Sự khác nhau về trình độ cũng dẫn đến sự khác nhau về năng lực kinh tế. Ở Hàn Quốc, nam nữ thường chọn kết hôn với những người có cùng trình độ học vấn với mình. Nhưng trong gia đình kết hôn quốc tế thì người chồng Hàn Quốc thường có trình độ học vấn cao hơn người vợ nước ngoài. Và cũng vì lý do này mà nhiều gia đình không bình đẳng, người chồng có khuynh hướng nắm quyền trong quan hệ vợ chồng.

Thứ ba, năng lực tiếng Hàn là yếu tố quan trọng nhất giúp cô dâu Việt thích nghi với xã hội và gia đình Hàn Quốc. Nếu nói tốt tiếng Hàn, họ có thể trành được những mâu thuẫn vợ chồng hay sự phân biệt đối xử của xã hội. Nếu người vợ Việt có thể nâng cao trình độ ngôn ngữ trong thời gian ngắn và tự do tự tại nói tiếng Hàn được, không cần phụ thuộc vào ai thì sẽ giảm và hàn gắn được mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng.

Thứ tư, sự khác biệt văn hóa cũng có thể tìm thấy được trong các cặp vợ chồng cùng quốc tịch nhưng đến từ  vùng miền khác nhau. Do đó, vợ chồng kết hôn quốc tế đương nhiên sẽ cảm thấy sự khác biệt văn hóa lớn như ngôn ngữ, lịch sử, truyền thống, …Trong những khác biệt này, yếu tố lớn nhất mà hầu như vợ chồng nào cũng gặp phải trong sinh hoạt hàng ngày chính là thói quen ăn uống. Thói quen ăn uống của người Đông Nam Á rất khác với người Đông Bắc Á như Hàn Quốc. Người chồng Hàn Quốc rất khó làm quen được với văn hóa ẩm thực Đông Nam Á, và ngược lại, người vợ Việt Nam cũng khó ăn những món ăn cay và nhiều gia vị như nước tương, tương đậu,… của Hàn Quốc. Để có được sự dung hòa trong quan hệ vợ chồng, thiết nghĩ, vợ chồng Hàn-Việt cần cố gắng thông cảm, làm quen với văn hóa ẩm thực và thói quen ăn uống của nhau, cũng như thường xuyên nếm thử thức ăn của nước bạn đời mình.

Thứ năm, sự khác biệt văn hóa trong cách nghĩ, giá trị quan lại không phải là nguyên nhân lớn dẫn đến mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng và trong sinh hoạt gia đình. Qua bài viết này, chúng tôi thấy rằng, những cô dâu Việt ở độ tuổi còn trẻ thì khả năng thích nghi với văn hóa hay cách nghĩ tốt hơn các đối tượng khác. Điều này cũng có thể là do Hàn Quốc và Việt Nam có vài nét tương đồng văn hóa từ tư tưởng Nho giáo mang lại, vì vậy văn hóa Hàn Quốc cũng không quá xa lạ với người Việt.

Thứ sáu, mặc dù trong bài viết này chúng tôi không đề cập trực tiếp nhưng chúng ta cũng biết rằng rất nhiều cặp vợ chồng Hàn-Việt kết hôn không phải xuất phát từ tình yêu mà qua các công ty môi giới hôn nhân. Họ cưới nhau không phải đã tìm hiểu rõ về đối phương mà chỉ tìm hiểu sơ qua và kết hôn rất vội. Đa số họ về sống chung mà không nắm được nhiều thông tin của nhau. Nhiều cặp vợ chồng dù đã trải qua thời gian tìm hiểu, yêu đương trong thời gian dài nhưng khi về sống chung thì bắt đầu phát sinh nhiều vấn đề. Vậy nên hôn nhân không xuất phát từ tình yêu mà chỉ vì mưu cầu của bản thân dĩ nhiên sẽ có nhiều vấn đề hơn. Chúng tôi cho rằng phụ nữ Việt Nam cần tìm hiểu và xây dựng tình cảm với đối tượng kết hôn của mình trước khi tiến đến hôn nhân để có được cuộc sống hôn nhân hạnh phúc bền vững.

 

GS. TS. Eun Ki Soo

Đại học Quốc gia Seoul

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ 2017





Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.